KẾT TRUYỆN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - NGUYỄN TUÂN

09:17 |
Về cái kết của truyện ngắn Chữ người tử tù(Nguyễn Tuân), có ý kiến cho rằng “Sau khi Huấn Cao bị xử chém, quản ngục nhất định bỏ nghề cai tù về quê sinh sống để giữ thiên lương cho lành vững”. Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên?

a. Giới thiệu ngắn gọn về nhân vật Huấn Cao, quản ngục và cảnh cho chữ ở cuối truyện
b. Giải thích ý kiến
- Kết thúc truyện là sự kiện kết thúc, khép lại một câu chuyện. Cách kết thúc truyện bao giờ cũng gắn liền với chủ đề tư tưởng của tác phẩm, nó góp phần thể hiện thái độ và khát vọng của nhà văn đối với con người và cuộc sống.
- Nhận định trên thực chất là một cách tiếp cận và đồng sáng tạo của người đọc sau khi đọc xong tác phẩm.
c. Bình luận ý kiến
Tác phẩm kết thúc bằng chi tiết ngục quan vái lạy Huấn Cao mà nhận lời giáo huấn “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.Truyện dừng lại ở đây nhưng người đọc tin chắc quản ngục sẽ nghe theo lời giáo huấn của Huấn Cao bởi 2 căn cứ dưới đây:
c1. Căn cứ vào sự vận động của cốt truyện và diễn biến nội tâm nhân vật quản ngục
- Về bản chất quản ngục là người tốt, có nhân cách: Ông là người có tâm hồn nghệ sĩ, biết yêu cái đẹp và kính trọng người có tài. Mà “Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình”.có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”... là thanh âm trong trẻo, thuần khiết, có tâm điền tốt và thẳng thắn...
- Sống trong môi trường nhà tù, nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”, quản ngục cũng trở nên lạnh lùng, thậm chí là tàn nhẫn (qua việc nhận tù, giao tù với “những mánh khóe hành hạ thường lệ”).
- Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Huấn Cao tại nhà tù đã khiến quản ngục thay đổi:
+Ông quyết định quên đi bổn phẩn và trách nhiệm với triều đình, dũng cảm biệt đãi tử tù.
+Có lúc ông đã nhận ra mình “chọn nhầm nghề mất rồi”.
+ Ngay cả khi bị coi thường, sỉ nhục, ông vẫn giữ thái độ tôn kính với tử tù.
+ Khi được Huấn Cao cho chữ, quản ngục khúm núm, vái người tù. Tư thế và thái độ này không phải vì ông sợ sệt hay nịnh bợ mà trái lại nó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của ông trước cái đẹp, trước người tài.
    + Đặc biệt quản ngục đã nhận lời khuyên răn từ Huấn Cao “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Điều này chứng tỏ ông tự nhận mình là người không sáng suốt (mê muội) và xin được nghe theo lời của Huấn Cao (bái lĩnh). Điều này cũng cho thấy nhân cách của quản ngục: ông không chỉ có tấm lòng biệt nhỡn liên tài mà còn biết phục thiện.
- Lời hứa của một nhân cách trước một nhân cách khác, lời hứa của một người còn sống với một người sắp từ giã cõi đời sẽ là một lời hứa có giá trị. Vì thế ta có thể chắc chắn rằng rồi ngục quan sẽ từ bỏ công việc cai tù để bắt đầu một cuộc sống khác.
c2. Căn cứ vàoquan niệm sáng tác theo chủ nghĩa lãng mạn của Nguyễn Tuân: ông là người tôn thờ cái đẹp, ông cho rằng cái đẹp chỉ tồn tại khi nó đi liền với cái chân, cái thiện. Cái đẹp có chức năng giáo dục và hướng thiện. Bởi thế sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên bảo chắc chắn quản ngục sẽ từ bỏ nghề cai ngục bất lương để giữ gìn cái thiên lương trong sáng của mình.
d. Đánh giá
- Ý kiến trên nhấn mạnh vai trò của kết thúc truyện trong việc góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
- Bằng việc xây dựng một kết thúc mở Chữ người tử tù đã hấp dẫn được người đọc đồng thời cho thấy tài năng nghệ thuật của tác giả khi xây dựng cốt truyện.

- HS liên hệ.

NHÂN VẬT THỊ NỞ TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO - NAM CAO

09:14 |
a. Khái quát
- Thị Nở không phải là nhân vật chính của tác phẩm nhưng được tác giả kể rất sinh động về ngoại hình, tính cách
- Sự vận động số phận của nhân vật này chủ yếu trong mối quan hệ với nhân vật chính Chí Phèo. Vì vậy, tao nên sự vận động và phát triển của cốt truyện và giá trị nhân sinh, quan niệm thẩm mỹ của nhà văn.
b. Cụ thể: 
- Cái xấu, cái dị dạng được phóng đại, tô đậm theo xu hướng tuyệt đối hóa
+ “mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng, trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi: có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. Ðã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm một lần, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Ðã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu..."
+ "Đã thế thị lại dở hơi...Và thị lại nghèo...Và thị lại là dòng giống của một nhà có mả hủi...". Thế nên, Thị Nở không có chồng và "người ta tránh thị như tránh một con vật rất tởm".

- Chất nhân văn cũng được tô đậm trong tương quan đối lập với ngoại hình:
+ Tình thương: chăm sóc Chí Phèo chu đáo, tình nghĩa
+ Khát khao hạnh phúc: thích cuộc sống gia đình có vợ, có chồng và nghĩ rất nghiêm túc về mối quan hệ với Chí (cảm giác "ngường ngượng mà thinh thích",...) tạo nên đôi lứa xứng đôi
- Nhận xét:
+ Thủ pháp của nghệ thuật lãng mạn được sử dụng khá triệt để: miêu tả, phóng đại, đối lập
+ Tính lô gích lỏng lẻo
+ Quan niệm thẩm mỹ lệch chuẩn với tính chỉnh thể thẩm mĩ của tác phẩm.

- Thị Nở tuân thủ nghiêm ngặt sự phát triển truyện hiện thực
+ Nhân vật sinh ra từ làng quê nghèo có thân phận đáng thương
+ Tiếp xúc, bày tỏ tình cảm với Chí Phèo một cách tự nhiên, tất yếu
+ Từ chối tình yêu của Chí Phèo, thể hiện thái độ với cái chết của Chí Phèo trong quan niệm của định kiến xã hội và suy nghĩ chân thành, trung thực của Thị Nở.
 - Thị Nở xuất hiện nhằm giải quyết quan niệm nghệ thuật của Nam Cao
+ Tiếp xúc với Chí Phèo, dùng tình yêu để cảm hóa Chí Phèo theo hướng phục thiện, thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc
+ Góp phần để cốt truyện phát triển giàu tính kịch và kết thúc truyện đầu cuối tương ứng phản ánh, nhận thức hiện thực sâu sắc
- Nhận xét:
+ Các hình thức của nghệ thuật hiện thực được tôn trọng: chi tiết điển hình, tâm lý tính cách nhân vật trong hoàn cảnh hiện thực khách quan.
+ Lô gích trong mối quan hệ hoàn cảnh – tính cách được thể hiện hài hòa, theo qui luật
+ Cái Đẹp được khái quát ở tính nhân văn sâu sắc ở quan niệm nghệ thuật về con người: tin tưởng vào bản tính lương thiện, hướng thiện của con người trong bất kì hoàn cảnh, số phận nào.
c. Đánh giá
 - Hai ý kiến là những quan niệm tiếp nhận dựa trên lí lẽ của quan niệm sáng tác chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn. Sự giao thoa của hai quan niệm này tạo ra những căn cứ tiếp nhận. Ý kiến 1, chỉ dựa vào những mặt biểu hiện, trong việc tách rời với chủ đề tư tưởng của tác phẩm và quan niệm thẩm mỹ của nhà văn. Do đó, không thuyết phục. Ý kiến 2, dựa vào mối quan hệ sâu sắc của nhân vật trong tác phẩm hiện thực để chỉ ra, đánh giá nên hoàn toàn đúng.

- Ý kiến 1, nên coi đó như một cách thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà văn để nhấn mạnh chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Ý kiến 2, nằm trong chỉnh thể làm nên phong cách Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc.

CHI TIẾT ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI TRONG TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

09:10 |
Sự vận động của thời gian (chiều – đêm khuya) và không gian (phố huyện nghèo, chủ yếu quanh ga xép có chuyến tàu đêm đi qua) là cơ sở để ánh sáng và bóng tối xuất hiện như yếu tố tham gia vào câu chuyện
b1. Bóng tối
b.1.1. Bóng tối hiện hình trong thiên nhiên
- Bầu trời:
+ Khi phương tây đỏ rực như lửa cháy, thì người đọc cũng thấy dãy tre trước làng đen kịt cắt dán trên nền trời
+ Bầu trời đêm thăm thẳm, huyền bí
- Mặt đất:
+ Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Đôi mắt chị (Liên) bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê
+ Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối.
+ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa. Bóng tối quánh đặc: Tiếng trống cầm canh đánh tung lên rồi chìm ngay vào bóng tối
+ Chiếc tàu đi vào đêm tối. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh…Tiếng vang động của xe hỏa mất dần trong bóng tối
b.1.2. Bóng tối hiện hình bủa vây thân phận con người
- Những cuộc đời đi vào bóng tối bế tắc, vô vọng
+ Những đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ
+ Mẹ con chị Tý
+ Bác Siêu
+ Gia đình bác Xẩm
+ Bà cụ Thi hơi điên
+ Chị em Liên
- Những nỗi buồn, niềm hy vọng trong bóng tối mong manh
+ Bóng tối trong sâu thẳm tâm hồn Liên
+ Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ…
b2. Ánh sáng
b.2.1. Ánh sáng thiên nhiên lung linh
- Bầu trời huyền ảo: Phương tây đỏ rực như lửa cháy... Ánh sáng của ngàn sao ganh nhau lấp lánh. Vệt sáng của những con đom đóm
- Mặt đất đối lập
+ Phố huyện: Những ánh sáng từ ngọn đèn trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo loét trong nhà ông Cửu, những ánh sáng xanh trong hiệu khách...Những ánh sáng ấy chiếu ra ngoài phố... Ánh sáng từ ngọn đèn của chị Tí. Khe ánh sáng từ một vài cửa hàng còn thức. Quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn của chị Tí. Một chấm lửa ở phía huyện... Ánh sáng đèn lồng của những người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ về
+ Đoàn tàu: Làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa. Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Những người, đồng và kền lắp lánh, và các cửa kính ánh sáng…Đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng.
+ Kí ức: Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo.

b.2.2. Ánh sáng của số phận nhỏ bé, mong manh nhưng bền bỉ, dẻo dai:
    - Những người dân phố huyện nghèo giống như những vệt, quầng, khe, hột, chấm sáng
    - Bị bóng tối lấn át nhưng không bị dập tắt vẫn miệt mài bám trụ vào sự sống, tin tưởng hướng về tương lai tươi sáng
c. Đánh giá:
- Chi tiết AS, BT có vị trí quan trọng thể hiện nội dung câu chuyện, chủ đề tác phẩm: cuộc sống quẩn quanh bế tắc và ước mơ về tương lai tươi sáng
- Chi tiết thể hiện được tài năng nhà văn: cách miêu tả sinh động, cách biểu cảm rung động, thủ pháp tương phản đối lập gay gắt và quan niệm thẩm mỹ sâu sắc, góp phần tô đậm hiện thực cuộc đời con người trong xã hội cũ: cuộc đời của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và nói rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo.
- Sử dụng tài tình bút pháp tương phản của chủ nghĩa lãng mạn, sáng tạo được những chi tiết nghệ thuật đắt giá, trở thành những chi tiết ám ảnh tâm hồn người đọc.

XU THẾ TOÀN CẦU HÓA

20:42 |
* Một hệ quả quan trọng của cách mạng khoa học – công nghệ là từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhất là từ sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa.
            * Bản chất của toàn cầu hóa: là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới.
            * Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa ngày nay là:
            - Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế
- Sự phát triển và tác động to lớn của các công ti xuyên quốc gia.
            - Sự sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ti khoa học – kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường  trong và ngoài nước, làn sóng sáp nhập này tăng lên nhanh chóng vào những năm cuối thế kỷ XX.
          - Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực. Các tổ chức này có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực.
* Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược. Nó vừa là cơ hội rất to lớn cho sự phát triển mạnh mẽ của các nước, đồng thời cũng tạo ra thách thức là nếu bỏ lỡ thời cơ thì sẽ bị tụt hậu rất xa.
- Thời cơ: Các nước có thể khai thác nguồn vốn đầu tư, kĩ thuật – công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ khoa học – kĩ thuật…
- Thách thức: hội nhập quốc tế, chênh lệch, bất bìn đẳng, sự cạnh tranh, nguy cơ đánh mất bản sắc...
          * Chủ trương của Đảng và Nhà nước trước xu thế toàn cầu hóa:
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, bảo đảm độc lập tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường…

----------------- Chúc các em ôn tập tốt! -----------------


GV hướng dẫn: Nguyễn Thị Thanh Hải

Hướng dẫn ôn tập nội dung: Đường lối cách mạng Việt Nam (1939 – 1945)

04:17 |

1. Hoàn cảnh lịch sử
a. Tình hình chính trị:   
           * Thế giới:
           - Tháng 9- 1939, CTTGII bùng nổ, phát xít Đức đánh chiếm các nước châu Âu tư bản. Tháng 6- 1940, Pháp đầu hàng Đức, thực hiện chính sách thù địch với cách mạng thuộc địa.   
           - Tháng 6- 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng Việt Nam.
          - Ở Viễn Đông, phát xít Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt – Trung.
          * Trong nước
           - Chính quyền mới thực hiện một loạt chính sách vơ vét sức người, sức của của Đông Dương dốc vào cuộc chiến tranh.
           - Cuối tháng 9-1940, quân Nhật vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh chóng đầu hàng. Nhật Pháp câu kết với nhau để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương.
           - Việt Nam lúc này đặt dưới ách thống trị của Pháp và Nhật. Nhật và tay sai ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh và sức mạnh của Nhật bản và thuyết Đại Đông Á, dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp sau này.
b. Tình hình kinh tế
          * Chính sách của Pháp:
          - Tháng 9 – 1939, toàn quyền Catơru ra lệnh tổng động viên nhằm cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu.
          - Pháp thi hành chính sách kinh tế chỉ huy, tăng thuế cũ, đặt them thuế mới, cưỡng bức thu mua lương thực, thực phẩm, sa thải công nhân viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm…
          * Chính sách của Nhật:
          - Nhật buộc Pháp cho sử dụng các sân bay, phương tiện giao thong, kiểm soát hệ thống đường sắt và các tàu biển. Buộc Pháp hang năm phải nộp cho Nhật một khoản tiền lớn…
          - Cướp đoạt ruộng đất của nông dân, bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, thầu dầu phục vụ cho nhu cầu chiến tranh của chúng.
→ Chính sách bóc lột của Pháp, Nhật đã đẩy nhân ta tới chỗ cùng cực. Hậu quả là cuối năm 1944 đầu năm 1945 có khoảng 2 triệu đồng bào ta chết đói, KTVN tiêu điều, kiệt quệ.
c. Xã hội:
          - Đời sống của mọi tầng lớp, giai cấp trong XH (trừ bọn tay sai, đại địa chủ và tư sản mại bản) đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp, Nhật:
         
→ Chính sách thống trị của Pháp, Nhật đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc phát xít Pháp, Nhật và bọn tay sai trở nên gay gắt. Yêu cầu Đảng ta phải có sự lãnh đạo kịp thời, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
2. Đường lối cách mạng Việt Nam
           Đường lối cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945 thể hiện ở sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng qua các Hội nghị Ban Chấp hành TWĐCSĐD lần thứ VI (11-1939), lần thứ VII (1-1940) và được hoàn chỉnh ở Hội nghị lần thứ VIII (5 - 1941).
a. Hội Nghị BCH Trung ương tháng 11 - 1939
           - Từ 6 đến 8-11-1939, HN BCHTW ĐCSĐD lần thứ VI được triệu tập tại Bà Điểm (Hóc Môn-Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì.
          - Nội dung:
           + Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
           + Tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ, tay sai, chống tô cao, lãi nặng. Khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công nông binh được thay bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa.
           + Chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp.
          + Chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (MT phản đế Đông Dương) thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là đế quốc phát xít, giành độc lập dân tộc.
          - Ý nghĩa: Nghị quyết Hội nghị lần thứ trung ương lần VI đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng: đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng, mở đường đi tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám.
b. Hội nghị BCH Trung ương VIII tháng 5 - 1941
          - Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Sau một thời gian chuẩn bị, Người chủ trì HN BCHTW Đảng lần VIII tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19-5-1941.
          - Nội dung:
           + Hội nghị khẳng định nhiềm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc.
           + Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất thay bằng khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng. Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi Pháp Pháp – Nhật sẽ thành lập chính phủ nhân dân của nước VNDCCH.
          + Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Dông Dương và giúp đỡ việc lập mặt trận ở các nước Lào, Campuchia.
           + Xác định hình thái của cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa, chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn hiện tại.
           - Ý nghĩa: Hội nghị TW lần thứ VIII đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra từ Hội nghị VI tháng 11-1939, nhằm giải quyết mục tiêu số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương sáng tạo, hội nghị có tầm quan trọng quyết định cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám sau này.
                                                                 
                                                                                      GV hướng dẫn: Hà Thị Đế


Văn học Dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

19:27 |
Trong những năm gần đây, trường Dự bị Đại học dân tộc trung ương luôn dẫn đầu trong khối các trường Dự bị Đại học ở nhều lĩnh vực trong đó có hoạt động chuyên môn. Trong giảng dạy, bắt nhịp với xu thế chung của Ngành giáo dục, các nhóm, các tổ chuyên môn đã thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp. Trong đó, nhóm Ngữ văn đã tích cực bám sát yêu cầu của Nhà trường cũng như xu thế giáo dục hiện đại. Chưa đầy hai tháng đầu năm học mới, nhóm Ngữ văn đã thực hiện tốt dạy học chủ đề theo phương pháp dạy Dự án với chủ đề 1: Tiếng Việt với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ( liên môn Giáo dục Công dân với Tiếng Việt dành cho họa sinh khối A,B) và chủ đề 2:  Văn học Dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (dành học sinh khối C,D).
Nhóm Ngữ văn bắt tay vào công việc ngay từ những ngày đầu năm học
Ở chủ đề 2:  Văn học Dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nhóm Ngữ văn chúng tôi đã lên kế hoạch bổ sung hoàn thiện nội dung đã thực hiện trong năm học trước với học sinh khóa 41. Tuy nhiên, cả nhóm cũng rất nhiệt tình khi triển khai dự án. Với chủ đề này chúng tôi xác định rất rõ mục tiêu cần đạt cho học sinh:
- Thống kê các thể loại văn học dân gian tiêu biểu của vùng Đất Tổ: truyện cười, dân ca hát Xoan, ca dao, tục ngữ,… Tái hiện được đặc trưng văn học dân gian vùng Đất Tổ dựa trên đặc trưng của VHDG.  Chỉ ra được các hình thức nghệ thuật của văn học dân gian văn học dân gian vùng Đất Tổ thông qua các thể loại và tác phẩm cụ thể.
- Giải thích được đặc trưng của VHDG vùng Đất Tổ thông qua mối quan hệ giữa các thể loại. Lí giải được nôi dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học dân gian cụ thể.
- Lý giải, xác định được nội dung, nghệ thuật các tác phẩm văn học dân gian vùng Đất Tổ tiêu biểu: Truyện cười làng Văn Lang, Hát xoan, ghẹo, truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, ... Thấy được các yếu tố văn hóa trong các tác phẩm văn học dân gian vùng Đất Tổ tiêu biểu
-  Lý giải, so sánh được nội dung, nghệ thuật của các truyện cười làng Văn Lang, các làn điệu xoan ghẹo, các tác phẩm VHDG dân tộc ít người với các tác phẩm VHDG cùng thể loại.  Trình diễn, diễn xướng được các tác phẩm văn học dân gian.
Qua đó,  giáo dục và bồi dưỡng học sinh về ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Học sinh  biết yêu con người, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu văn hóa và trách nhiệm đối với đất nước.
         Dưới sự hướng dẫn của thầy cô các em đã nhanh chóng nắm bắt kế hoạch tuyên truyền, trình diễn hát Xoan vào tối chủ nhật 23 và 30/10/2016  của phòng  Văn hóa thành phố Việt Trì. Hoạt động trải nghiệm này giúp các em tham gia trực tiếp vào quá trình diễn xướng của các nghệ nhân và có giao lưu trao đổi với nghệ nhân.
Học sinh trải nghiệm hát xoan tại Công viên Văn Lang
Qua hoạt động trải nghiệm, học sinh hiểu nhiều hơn về hát Xoan, loại hình dân ca cổ xưa của vùng Đất Tổ và thêm yêu quý văn học Đất Tổ nói riêng và văn học dân gian nói chung. Phần Văn học dân gian các em học trong chương trình Phổ thông Trung học rất tản mạn và hình thức nên giá trị nhận thức và tình cảm hầu như chưa định hình được nhiều trong tâm thế học sinh. Đến với phương pháp học và cách hệ thống kiến thức này, học sinh đề thấy yêu thích hơn đối với phân môn này.
     Với nhiệm vụ nhóm 1 trong các lớp, học sinh đã có sản phẩm rất tốt khi hoàn thành nhiệm vụ:  Tìm hiểu về thời đại Hùng Vương trên các mặt: địa lý, xã hội, văn hóa. Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông giáp huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Sơn La, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình. Các em cũng đã xác định các định hướng cơ bản về VHDG vùng Đất Tổ, xác định các yếu tố văn hóa vùng Đất Tổ.
Bản_đồ_Văn_Lang_&_Nam_Cương
Bản đồ nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương
        
họa tiếtd
Nét văn hóa đặc trưng vùng Đất Tổ
    Nhiệm vụ nhóm 2 cũng hoàn thành khá tốt ở các khối lớp với nội dung: Tìm hiểu về truyện  cười làng Văn Lang, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Bánh chưng, bánh giầy; Con Rồng, cháu Tiên. So sánh với đặc trưng chung của  Truyện cười, truyện cười Văn Lang đảm bảo các yếu tố truyện cười dân gian Việt nam tuy nhiên nó phát triển mạnh vào yếu tố cường điệu hóa sự vật để gây cười. Bởi vậy, nói đến Văn Lang là gắn với giai thoại “ cả làng nói phét”. Ở nhóm truyền thuyết,  truyền thuyết Hùng Vương có nét riêng gắn với yếu tố lịch sử thời đại Hùng Vương  dựng nước, nó đã ăn sâu vào văn hóa người Việt như những bài học lịch sử thấm đẫm chất nhân văn. Một số lớp đã có các nhóm xây dựng tiểu phẩm sân khấu hóa truyền thuyết thời đại Hùng Vương rất sáng tạo và thành công như nhóm 2 lớp K42C7. Các em đã thành công khi sân khấu hóa truyền thuyết Sơn Tinh -  Thủy Tinh và vận dụng sáng tạo khi giải quyết vấn đề thực tại cuộc sống hôm nay.  Sau cơn ghen tuông nông nổi, Sơn Tinh - Thủy Tinh hòa hảo để cùng chung tay chống lũ lụt cho dân.
Giáo viên với nhóm sân khấu hóa truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh
          Ở nhóm 3:  Hầu hết các nhóm lớp thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Tìm hiểu về hát Xoan là niềm hứng khởi của các em khi đến Đất Tổ, nhất là được học tập ở cái nôi sinh ra loại hình văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn khẩn cấp được thế giới công nhận vào năm 2012. Các nhóm lớp đều được tham gia trải  nghiệm và kết quả thu được đều rất tốt. Các em hiểu sâu về nguồn gốc, đặc điểm của thể loại này. Và đặc biệt đến với Đất Tổ, hát Xoan được đưa về môi trường diễn xướng. Khi tìm hiểu hát Xoan qua các nghệ nhân, các em thực sự thấy yêu quí vốn văn hóa cổ xưa này.
 Trình diễn tiết mục Xoan - của nhóm 3, K42 C7
Nhóm 4 là nhóm cuối cùng trong các khối lớp, nhiệm vụ của các em có sự tổng kết đánh giá và chỉ ra  sự tác động, ảnh hưởng của văn học VHDG tới văn học viết. Xác định yếu tố văn hóa vùng Đất Tổ trong văn học viết. Phần này, học sinh các lớp đều có kết quả khảo sát rất tốt. Các lớp đều chỉ ra ảnh hưởng sâu rộng của VHDG nói chung và VHDG Đất Tổ nói riêng chính là cái nôi, là ngọn nguồn nuôi dưỡng văn học Viết sau này. Ngày nay, mỗi chúng ta đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước đều không thể quên câu thơ:
laclongquan-auco-20413
Lạc Long quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng.

den hung
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Những vần thơ ấy chỉ là phần nhỏ bé trong kho tàng văn học dân tộc chịu sự ảnh hưởng từ VHDG nói chung và truyền thuyết thời Hùng Vương nói riêng. Chính những giá trị riêng ấy làm nên bản sắc văn hóa dân tộc ta hôm nay.
         Văn học Dân gian ra đời từ thửa xa xưa trong lịch sử dân tộc, nó là một bộ phận quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc.Qua học tập theo phương pháp Dự án, chúng tôi thực sự thấy đạt hiệu quả giáo dục cao. Các em được làm việc, tìm hiểu, trải nghiệm và khám phá. Học sinh được bồi đắp thêm tình yêu  đối với môn học nói riêng và tự hào với truyền thống văn hóa của dân tộc nói chung. Dự án Văn học Dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (dành học sinh khối C,D) thực sự để lại ấn tượng tốt trong lòng học sinh cũng như đội ngũ giáo viên Nhà trường.                                          
  GV: Trần Kim Anh - Nhóm chuyên môn Ngữ văn
Được tạo bởi Blogger.